Lừa vay tiền với những yếu tố nào thì có thể bị xem là hành vi lừa đảo?

Ngày hỏi:06/08/2014

Tôi có cho vo chồng một người bạn mượn tiền. Tính tới nay cả gốc và lãi là 200 triệu mà thời hạn trả  đã quá 10 thang rồi vợ chồng anh ta cứ khất lần không trả. Sau đó vợ chồng anh ta đưa cho tôi quyển sổ đỏ đất để thế chấp nhưng qua điều tra tôi thấy rõ quyển sổ đỏ đất đó đã sang tên cho người khác rồi và người mới đã làm quyển sổ mới rồi. Vậy tôi xin hỏi luật  sư đó có phải là hành vi lơi dụng tín nhiệm để chiêm đoạt tài sản không? Nếu phải thì tôi phải làm gì? Tôi có khởi kiện được không?Nếu khởi kiện thì tôi phải gửi đơn ở cơ quan pháp luật nào?

    • Theo quy định tại Điều 139 Bộ luật Hình sự năm 1999 được sửa đổi bổ sung năm 2009 thì Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đượ quy định như sau:

      1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản,chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

      2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

      a) Có tổ chức;

      b) Có tính chất chuyên nghiệp;

      c) Tái phạm nguy hiểm;

      d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

      đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

      e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

      g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

      3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

      a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

      b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

      4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

      a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

      b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

      5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

      Với số tiền trên thì trường hợp người đó bị truy cứu trách nhiệm hình sự thì hình phạt quy định tại Khoản 2 với thời hạn tù từ hai năm đến bẩy năm.

      Tuy nhiên với các thông tin bạn cung cấp thì chưa đủ yếu tố để khẳng định hai vợ chồng người đó có hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng như hành vi Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Sự việc sẽ không thay đổi tính chất nếu không có các thông tin khác.


    Nguồn:

    Theo Dân Luật
    Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
    Ý kiến bạn đọc
    CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA TÌNH HUỐNG NÀY
    THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn