Nhận tiền chuyển nhầm và không trả phạm tội gì?

Ngày hỏi:09/03/2019

Khi ngân hàng chuyển tiền cho khách hàng thì chuyển nhầm vào số tài khoản của người khác, ngay lúc đó thì người nhận được tiền đã rút tiền ra ngay lập tức và ngân hàng không kịp thu hồi. Sau đó ngân hàng đã liên hệ với người đó để xin trả lại tiền nhưng người đó trốn tránh không muốn trả, ngân hàng đã phải nhờ các cơ quan pháp luật can thiệp để đòi lại tiền. Vậy thì hành vi của người đó đã vi phạm vào điều gì ??? (Căn cứ vào những điều luật nào)

    Nội dung này được Ban biên tập Thư Ký Luật tư vấn như sau:

    • Điều 579 Bộ luật dân sự 2015 quy định:

      1. Người chiếm hữu, người sử dụng tài sản của người khác mà không có căn cứ pháp luật thì phải hoàn trả cho chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản đó; nếu không tìm được chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản thì phải giao cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại Điều 236 của Bộ luật này.

      2. Người được lợi về tài sản mà không có căn cứ pháp luật làm cho người khác bị thiệt hại thì phải hoàn trả khoản lợi đó cho người bị thiệt hại, trừ trường hợp quy định tại Điều 236 của Bộ luật này.

      Như vậy, nếu trường hợp số tiền gửi nhầm vào tài khoản đã được rút, Ngân hàng sẽ thông báo và liên lạc với chủ tài khoản để yêu cầu trả lại số tiền trên vì họ đã chiếm giữ không có căn cứ. Nếu người này vẫn cố tình không trả lại thì có thể sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về Tội chiếm giữ trái phép tài sản theo Điều 176 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi 2017:

      1. Người nào cố tình không trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng, di vật, cổ vật hoặc vật có giá trị lịch sử, văn hóa bị giao nhầm hoặc do mình tìm được, bắt được, sau khi chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản đó theo quy định của pháp luật, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

      2. Phạm tội chiếm giữ tài sản trị giá 200.000.000 đồng trở lên hoặc bảo vật quốc gia, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.


    Nguồn:

    THƯ KÝ LUẬT
    Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
    Ý kiến bạn đọc
    CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA TÌNH HUỐNG NÀY
    THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn