Nhận tiền để chạy việc cho người khác nhưng không làm được thì bị tội gì?

Ngày hỏi:17/12/2013

Con trai tôi do không hiểu biết nên đã mắc vào sai lầm sau Rất mong được sự tư vấn và hỗ trợ của các anh/ chị? Con tôi đang công tác tại 1 công ty nhà nước Do sự quen biết và cất nhắc nên có niềm tin của ban lãnh đạo, trong đó có 1 phó tổng của cơ quan Con trai tôi đã 2 lần chuyển hồ sơ xin việc cho người quen biết lên cho lãnh đạo và đã được cất nhắc đi làm (các lần đó đều có quà cho lãnh đạo). Sau đó do ngựa quen đường cũ và sự bật đèn xanh của vị lãnh đạo kia, con trai tôi đã thu hồ sơ ở ngoài kèm theo kinh phí rồi chuyển cho LĐ Sự việc suôn sẻ được mấy bộ, đến thời điểm gần đây con tôi có nhận thêm vài bộ HS nữa đưa kèm theo cả tiền đặt cọc.  Suy thoái kèm theo sự giảm biên chế dẫn tới việc không thể đi làm Con tôi đã bị trung tam môi giới việc làm (nhận các hs qua 1 người, sau này người đó bảo làm ở trung tâm này), ép viết giấy nhận tiền với nội dung cầm tiền đi xin việc. Tôi đã gặp họ thương lượng là trẻ dần, kèm theo khi tôi bán được nhà sẽ trả nhưng họ cứ nhất quyết đòi ngay số tiền là 600 triệu/ 10 bộ hs Gđ tôi không có tiền, chỉ bán nhà may ra mới có đủ số tiền đó. Họ đòi kiện Vậy cho tôi hỏi con tôi sẽ ra sao ạ. Mong được sự tư vấn của các bác các cô các chú ạ

  • Hành vi đó sẽ bị xử lý về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự. Mức án phụ thuộc vào số lượng tiền "chiếm đoạt". Do vậy, gia đình bạn cần thu xếp trả tiền cho những người đó và họ không tố cáo thì mới không bị xử lý.

    Bạn tham khảo quy định sau đây của Bộ luật hình sự:

    "Điều 139. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

    1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

    a) Có tổ chức;

    b) Có tính chất chuyên nghiệp;

    c) Tái phạm nguy hiểm;

    d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

    đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

    e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến hai trăm triệu đồng;

    g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

    3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

    a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

    b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

    4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm  hoặc  tù chung thân:

    a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

    b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

    5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm."


Nguồn:

Theo Dân Luật
Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
Ý kiến bạn đọc
ĐANG PHÂN TÍCH CĂN CỨ PHÁP LÝ
  • đang phân tích....
THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn