Tố cáo hành vi cố ý gây thương tích cho người khác

Ngày hỏi:21/10/2016

Tôi có một sự việc như thế này muốn hỏi ý kiến của luật sư về hành vi đánh người vô cớ của dân thường và hành vi đánh người vô cớ của quân nhân, đảng viên thì sẽ bị xử lí như thế nào? Một quân nhân hiện vẫn đang công tác đã cùng với em gái mình là một công dân bình thường, 2 người đánh một phụ nữ 40 tuổi khi người phụ nữ đó không làm gì họ. Khi công an đến thì cả 2 người này đã che dấu hành vi gây tội, bịt mồm nạn nhân không cho nạn nhân lên tiếng báo với công an và nói dối công an. Sau khi đến công an giải quyết, họ kết luận người phụ nữ 40 tuổi là người bị hại. Tôi muốn hỏi trường hợp này thì 2 người đánh người sẽ bị xử lí như thế nào và người phụ nữ kia có quyền kiện cáo như thế nào? Mong nhận được tư vấn của Ban biên tập Thư Ký Luật. Chân thành cảm ơn!

    Nội dung này được Ban biên tập Thư Ký Luật tư vấn như sau:

    • Căn cứ Điều 104 Bộ luật hình sự 1999 quy định tội cố ý gây thương tích như sau:

      "1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

      a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

      b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

      c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

      d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

      đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

      e) Có tổ chức;

      g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

      h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

      i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

      k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

      2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

      3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

      4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân."

      Nếu gây tỷ lệ thương tật cho người bị hại từ 11% trở lên hoặc dưới 11% và thuộc một trong các trường hợp quy định từ điểm a) đến điểm k) Khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự 1999 thì người gây thiệt hại sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự tội cố ý gây thương tích. Căn cứ vào mức tỷ lệ thương tật của người bị hại để xác định trách nhiệm hình sự đối với người gây thiệt hại.

      Nếu không đủ căn cứ để truy cứ trách nhiệm hình sự tội cố ý gây thương tích thì người gây thiệt hại sẽ bị xử phạt hành chính theo quy định tại điểm a) Khoản 2 Điều 5 Nghị định 167/2013/NĐ-CP như sau:

      "2. Phạt tiền từ 500.000 đồng đến 1.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

      a) Đánh nhau hoặc xúi giục người khác đánh nhau;"

      Để đảm bảo quyền lợi cho người bị hại, người thân hoặc người bị hại có thể làm đơn tố cáo tới cơ quan công an nơi người gây thiệt hại cư trú để yêu cầu giải quyết.

      Trên đây là tư vấn về tố cáo hành vi cố ý gây thương tích cho người khác. Bạn nên tham khảo chi tiết Bộ luật hình sự 1999 để nắm rõ quy định này.

      Trân trọng!


    Nguồn:

    THƯ KÝ LUẬT
    Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
    Ý kiến bạn đọc
    CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA TÌNH HUỐNG NÀY
    THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn