Trộm tiền xong trả lại có bị truy tố nữa không?

Ngày hỏi:29/12/2020

Trộm cắp tài sản là 1 chiếc nhẫn kim cương trị giá 500 triệu và bỏ trốn, người bị hại trình báo công an, sau đó người trộm cắp và gia đình đã trả lại tài sản đó. Người bị hại đã viết giấy bãi nại không truy cứu nhưng công an vẫn ra quyết định truy cứu. Như vậy có đúng không?

    Nội dung này được Ban biên tập Thư Ký Luật tư vấn như sau:

    • Trộm tiền xong trả lại có bị truy tố nữa không?
      (ảnh minh họa)
    • Tại Điều 155 Bộ luật tố tụng hình sự 2015 có quy định về những tội danh Khoản 1 mà bị hại được quyền rút đơn khởi tố (khi bị hại rút đơn, việc khởi tố sẽ dừng lại)

      - Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.

      -Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh.

      -Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng hoặc do vượt quá mức cần thiết khi bắt giữ người phạm tội.

      -Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác

      - Tội vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác do vi phạm quy tắc nghề nghiệp hoặc quy tắc hành chính

      - Và các Tội hiếp dâm. Tội cưỡng dâm. Tội làm nhục người khác. Tội vu khống. Tội xâm phạm quyền Sở hữu công nghiệp.

      Lưu ý: Không áp dụng đối với tội trộm cắp

      => Như vậy, theo quy định nêu trên thì dù bị hại có rút đơn thì việc khởi tố vẫn diễn ra bình thường, người trộm cắp đó vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi trộm cắp đó. Việc bị hại rút đơn chỉ là một trong những tình tiết giảm nhẹ của vụ án.

      Và theo quy định tại Khoản 34 Điều 1 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017.

      Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

      - Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

      - Lợi dụng thiên tai, dịch bệnh.

      => Như vậy, hành vi trộm cắp tài sản trên có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự với mức án từ 7 năm đến 15 năm tù.

      Trân trọng.


    Nguồn:

    THƯ KÝ LUẬT
    Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
    CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA TÌNH HUỐNG NÀY
    THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn