Tự ý chấm dứt nửa chừng việc phạm tội

A dùng súng định giết chết B, mới bắn một phát trúng chân B, thấy B bị thương, A có điều kiện bắn tiếp nhưng A không bắn mà bỏ đi. Kết quả B chỉ bị thương tích (tỉ lệ 45%). Hỏi: a. Hành vi của A có thõa mãn các điều kiện của tự ý chấm dứt việc phạm tội không? Giải thích? b. Xác định trách nhiệm hình sự của A.

    Nội dung này được Công ty Luật TNHH Đại Việt, 335 Kim Mã, Ba Đình, Hà Nội tư vấn như sau:

    • Trường hợp bạn hỏi, chúng tôi xin đưa ra câu trả lời như sau:

      1/ Hành vi của A đã thoả mãn các điều kiện của tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội (tội giết người) vì sau khi bắn súng trúng chân B, thấy B bị thương, A có điều kiện bắn chết B nhưng A không bắn mà bỏ đi. Về việc xác định dấu hiệu tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội, Điều 19, Bộ luật Hình sự 1999 có quy định: “Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản…”.

      2/ Về trách nhiệm hình sự của A trong trường hợp này, A sẽ được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người. Tuy nhiên, vì A bắn gây thương tật cho B tỷ lệ 45% đã cấu thành tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác. Cụ thể như sau:

      - Điều 19, Bộ luật Hình sự 1999 có quy định: “…Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác, thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này”.

      - Khoản 2, Điều 104, Bộ luật Hình sự 1999 quy định: “Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm”.

      Ngoài ra, A còn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự theo khoản 1, Điều 230, Bộ luật Hình sự 1999: “Người nào chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự, thì bị phạt tù từ một năm đến bảy năm”.


    Nguồn:

    CƠ SỞ DỮ LIỆU QUỐC GIA VỀ VĂN BẢN PHÁP LUẬT
    Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
    Ý kiến bạn đọc
    CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA TÌNH HUỐNG NÀY
    THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn