Về việc truy cứu tỉ lệ gây thương tích cho người khác

Ngày hỏi:23/02/2016

Thưa LS, 1 tội phạm gây ra thương tích cho 2 người . khi người bị nạn được CQĐT cho đi trưng cầu giám định thương tật . nếu tỷ lệ thương tật người A bị 11% và người B bị 50% và người tội phạm đó bị truy cứu với tội danh gì khi phạm tội . và tỷ lệ thương tật Người A .B có được tín chung 61% hay ko hay chỉ tín người có thương tật cao nhất 50% xin ls tư vấn dùm em. Cám ơn LS.

    • Với việc gây ra thương tích như thông tin bạn cung cấp thì việc đầu tiên chúng ta có thể nghĩ tới là tội Cố ý gây thương tích được quy định tại Điều 104 Bộ luật Hình sự.

      Điều 104. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác

      1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

      a) Dùng hung khí nguy hiểm hoặc dùng thủ đoạn gây nguy hại cho nhiều người;

      b) Gây cố tật nhẹ cho nạn nhân;

      c) Phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người;

      d) Đối với trẻ em, phụ nữ đang có thai, người già yếu, ốm đau hoặc người khác không có khả năng tự vệ;

      đ) Đối với ông, bà, cha, mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo, cô giáo của mình;

      e) Có tổ chức;

      g) Trong thời gian đang bị tạm giữ, tạm giam hoặc đang bị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục;

      h) Thuê gây thương tích hoặc gây thương tích thuê;

      i) Có tính chất côn đồ hoặc tái phạm nguy hiểm;

      k) Để cản trở người thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.

      2. Phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60% hoặc từ 11% đến 30%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

      3. Phạm tội gây thương tích, gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến 60%, nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm.

      4. Phạm tội dẫn đến chết nhiều người hoặc trong trường hợp đặc biệt nghiêm trọng khác, thì bị phạt tù từ mười năm đến hai mươi năm hoặc tù chung thân.

      Về tình tiết phạm tôi với hai người như bạn cung cấp được hướng dẫn áp dụng tại tiết c.2, điểm c, mục 3.2 phần 3 Nghị quyết số 01/2006/NQ- HĐTP ngày 12/05/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao như sau:

      3.2 Tình tiết "phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người" quy định tại điểm c khoản 1 Điều 104 của BLHS

      c.2. Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của hai người trở lên (có thể một lần, có thể nhiều lần đối với mỗi người) mà trong đó có ít nhất hai người và mỗi người một lần tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30%.

      Trường hợp trong các lần đó chỉ có một người một lần tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%, còn các lần khác tỷ lệ thương tật đều dưới 31% thì bị cáo cũng chị bị xét xử theo khoản 2 Điều 104 của BLHS.

      Như vậy với thông tin bạn nêu cùng với quy định tại khoản 2, Điều 104 BLHS, Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12/5/2006 thì người phạm tội trong trường hợp này sẽ bị áp dụng khoản 2, Điều 104 BLHS và phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn từ "hai năm đến bảy năm".

      Đó là hình phạt được quy định tại Điều 104 về Tội cố ý gây thương tích.

      Tuy nhiên nếu hậu quả gây thương tích xảy ra do thực hiện các hành vi phù hợp với quy định của pháp luật về Tội giết người quy định tại Điều 93 BLHS thì người phạm tội sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người. Do thông tin bạn cung cấp chỉ nói về hậu quả của hành vi nên bạn tham khảo nội dung tư vấn của luật sư để có nhận định chính xác nhất về tình huống của mình nhé.

      Nếu còn vướng mắc bạn có thể tiếp tục hỏi hoặc liên hệ trực tiếp Luật sư để được tư vấn chi tiết và chính xác hơn nữa với thông tin thực của vụ việc.


    Nguồn:

    Theo Dân Luật
    Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
    CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA TÌNH HUỐNG NÀY
    THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn