Vờ mượn xe máy để đưa con đi khám bệnh rồi bán xe lấy tiền đánh bạc, phạm tội gì?

Ngày hỏi:10/07/2016

Tôi vì tin lời của A khi A đến nhà tôi nói mượn xe máy để đưa con đi khám bệnh nên tôi đã đồng ý cho A mượn xe máy của mình (chiếc xe của tôi có trị 20 triệu đồng). Buổi tối cùng ngày tôi đến đòi xe thì được vợ của A cho biết vì muốn có tiền để đánh bạc nên A đã đến nhà tôi giả vờ hỏi mượn xe máy để đưa con đi khám bệnh nhưng thực chất là A đã đem chiếc xe đi bán được 8 triệu đồng và lấy số tiền này để đánh bạc. Xin hỏi với việc gian dối vờ hỏi mượn xe máy để đưa con đi khám bệnh rồi đem chiếc xe đi bán để lấy tiền đánh bạc thì A phạm tội gì? Mức hình phạt được áp dụng đối với A như thế nào?

    • Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) quy định “Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản” như sau:

      “1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

      2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

      a) Có tổ chức;

      b) Có tính chất chuyên nghiệp;

      c) Tái phạm nguy hiểm;

      d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

      đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

      e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;

      g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

      3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

      a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng;

      b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng.

      4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

      a) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm trăm triệu đồng trở lên;

      b) Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

      5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ mười triệu đồng đến một trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm”.

      Theo quy định trên thì “Gian dối” là đưa ra thông tin hay hành động không đúng sự thật nhằm đánh lừa người khác để người khác tin đó là sự thật. Hành vi gian dối trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản nhằm để chiếm đoạt tài sản, còn nếu có hành vi gian dối không nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản mà nhằm mục đích khác, dù mục đích này có tính tư lợi cũng không cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Thủ đoạn gian dối của người phạm tội bao giờ cũng phải có trước khi có việc giao tài sản giữa người người bị hại với người phạm tội thì mới là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nếu thủ đoạn gian dối lại có sau khi người phạm tội nhận được tài sản thì không phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà tuỳ từng trường hợp có thể phạm tội khác. Hành vi chiếm đoạt trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi chuyển dịch tài sản của người khác thành tài sản của mình bằng thủ đoạn gian dối.

      Như vậy, đối chiếu với trường hợp của bạn hỏi thì A có hành vi dùng thủ đoạn gian dối (giả vờ mượn xe máy của bạn để đưa con đi khám bệnh) làm cho bạn là chủ sở hữu chiếc xe máy tưởng là thật nên đã tự nguyện giao xe máy cho A. Khi A nhận được xe máy của bạn thì A đã có hành vi chiếm đoạt chiếc xe máy (bán xe máy được 8 triệu đồng để lấy tiền đánh bạc). Do đó A đã phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Mức hình phạt được áp dụng đối với A là bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm (theo quy định tại khoản 1 Điều 139).


    Nguồn:

    Trang thông tin tuyên truyền, Phổ biến pháp luật - Hội đồng phổ biến, giáo dục pháp luật TP Hà Nội
    Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
    CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA TÌNH HUỐNG NÀY
    THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn