Nhặt được của rơi không trả lại bị xử lý thế nào?

Ngày hỏi:26/08/2019

Em đi ăn để điện thoại ở ghế sau đó ra thanh toán thì có một người phụ nữ đi đến ngồi vào chỗ em ban đầu cùng con gái chị ý. Sau khi kiểm tra camera thì em thấy chị ý ngồi xuống lấy điện thoại em cất đi nhưng sau đó lại đặt lên bàn và đi ra. Sau đó 2 mẹ con quay lại và lấy chiếc điện thoại em để quên và rời khỏi khu vực gấp. Em có bảo công an nhưng họ nói là do lỗi em không cẩn thận bị lấy.

Nhưng em có tìm hiểu: lén lút lấy đi như vậy được coi là trộm cắp. Nếu vậy thì xin luật sự tư vấn giúp em nếu trong trường hợp này 2 mẹ con kia có phải chịu trách nhiệm pháp luật hay phạt tiền hoặc bồi thường không ạ?

    Nội dung này được Ban biên tập Thư Ký Luật tư vấn như sau:

    • Pháp luật hiện hành quy định rõ trình tự, thủ tục cần phải thực hiện và căn cứ xác lập quyền sở hữu khi phát hiện tài sản do người khác đánh rơi. Cụ thể, Điều 230 Bộ luật dân sự 2015 quy định về việc xác lập quyền sở hữu đối với tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên như sau:

      "1. Người phát hiện tài sản do người khác đánh rơi, bỏ quên mà biết được địa chỉ của người đánh rơi hoặc bỏ quên thì phải thông báo hoặc trả lại tài sản cho người đó; nếu không biết địa chỉ của người đánh rơi hoặc bỏ quên thì phải thông báo hoặc giao nộp cho Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã nơi gần nhất để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại.

      Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã đã nhận tài sản phải thông báo cho người đã giao nộp về kết quả xác định chủ sở hữu."

      Như vậy, người nhặt được tiền biết được địa chỉ của người đánh rơi thì phải thông báo hoặc trả lại. Nếu không biết địa chỉ của người đánh rơi hoặc bỏ quên thì phải thông báo hoặc giao nộp cho Ủy ban nhân dân cấp xã hoặc công an cấp xã nơi gần nhất để thông báo công khai cho chủ sở hữu biết mà nhận lại.

      Căn cứ Khoản 1 Điều 166 Bộ luật Dân sự 2015 thì chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật.

      Theo đó, tại Điểm e khoản 2 Điều 15 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định, hành vi chiếm giữ trái phép tài sản của người khác bị phạt tiền từ 2.000.000 đến 5.000.000 đồng.

      Đồng thời, tùy vào tính chất cũng như số tiền,... thì bạn của bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm giữ trái phép tài sản tại Điều 176 Bộ luật Hình sự 2015 được bổ sung bởi Điểm d Khoản 1 Điều 2 Luật sửa đổi Bộ luật Hình sự 2017

      "- Người nào cố tình không trả lại cho chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc không giao nộp cho cơ quan có trách nhiệm tài sản trị giá từ 10.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng, hoặc dưới 10.000.000 đồng nhưng tài sản là di vật, cổ vật bị giao nhầm hoặc do mình tìm được, bắt được, sau khi chủ sở hữu, người quản lý hợp pháp hoặc cơ quan có trách nhiệm yêu cầu được nhận lại tài sản đó theo quy định của pháp luật, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

      - Phạm tội chiếm giữ tài sản trị giá 200.000.000 đồng trở lên hoặc bảo vật quốc gia, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm."

      Như vậy, trong trường hợp này với hành vi nhặt được chiếc điện thoại mà không trả lại sẽ bị phạt hành chính từ 2 triệu đến 5 triệu đồng. Ngoài ra, nếu tài sản nhặt được có giá trị từ 10 triệu đồng trở lên có thể bị phạt tiền từ 10 triệu đến 50 triệu, phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.

      Trên đây là nội dung tư vấn của chúng tôi.

      Trân trọng!


    Nguồn:

    THƯ KÝ LUẬT
    Nội dung tư vấn trên đây chỉ mang tính tham khảo, Quý độc giả cần xem Căn cứ pháp lý của tình huống này để có thông tin chính xác hơn.
    CĂN CỨ PHÁP LÝ CỦA TÌNH HUỐNG NÀY
    THÔNG TIN NGƯỜI TRẢ LỜI
    Hãy để GOOGLE hỗ trợ bạn