Bảo đảm chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm

Bảo đảm chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm là quy định được ghi nhận lần đầu tiên tại Luật Tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002, trước đây Pháp lệnh Thẩm phán và Hội thẩm Toà án nhân dân năm 1993 không nhắc tới quy định nêu trên.

Trong hệ thống tư pháp, Tòa án giữ một vị trí đặc biệt. Bằng hoạt động của mình, Toà án có vai trò cực kỳ quan trọng trong việc giữ gìn, và đảm bảo công lý, bảo vệ pháp luật và quyền lợi của công dân - một trong những nhiệm vụ quan trọng bậc nhất của mối quốc gia. Ngoài ra, Tòa án còn có nhiệm vụ bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể, bảo vệ tính mạng, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân.

Và ngày nay khi mà các tranh chấp xảy ra ngày càng nhiều từ sinh hoạt đến sản xuất kinh doanh, thương mại thì càng khẳng định được vai trò giải quyết tranh chấp của Tòa án.
Theo đó, chế độ xét xử của Tòa án phải bảo đảm theo hai cấp đó là sơ thẩm và phúc thẩm theo quy định pháp luật.

Bảo đảm chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm thay đổi như thế nào:
Theo quy định hiện hành tại Luật Tổ chức Tòa án nhân dân 2014 thì việc bảo đảm chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được quy định như sau: 1. Chế độ xét xử sơ thẩm, phúc thẩm được bảo đảm. Bản án, quyết định sơ thẩm của Tòa án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của luật tố tụng. Bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn do luật định thì có hiệu lực pháp luật. Bản án, quyết ...

Căn cứ theo quy định tại Điều 11 Luật tổ chức Tòa án nhân dân 2002 có quy định: 1. Toà án thực hiện chế độ hai cấp xét xử. Bản án, quyết định sơ thẩm của Toà án có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo quy định của pháp luật tố tụng. Bản án, quyết định sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn do pháp luật quy định thì có hiệu lực pháp luật. Đối với bản án, quyết định sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị ...