Cổ phiếu

Cổ phiếu lần đầu tiên được ghi nhận tại Luật Doanh nghiệp 1999 và nội dung này tiếp tục được sửa đổi, bổ sung qua các Luật doanh nghiệp về sau.

Cổ phiếu được hiểu là giấy chứng nhận số tiền nhà đầu tư đóng góp vào công ty phát hành. Cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó. Người nắm giữ cổ phiếu trở thành cổ đông và có thể đồng thời là chủ sở hữu của công ty phát hành. Cổ phiếu hợp lệ phải đảm bảo có đầy đủ các nội dung tại Luật Doanh nghiệp.

Về phân loại, dựa vào hình thức cổ phiếu, có thể phân biệt cổ phiếu ghi danh và cổ phiếu vô danh. Dựa vào quyền lợi mà cổ phiếu đưa lại cho người nắm giữ, có thể phân biệt cổ phiếu phổ thông (cổ phiếu thường) và cổ phiếu ưu đãi - đây là cách phân loại phổ biến nhất.

Cổ phiếu thay đổi như thế nào:
Cổ phiếu của công ty cổ phần được quy định tại Điều 120 Luật doanh nghiệp 2014 với nội dung như sau: - Cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành, bút toán ghi sổ hoặc dữ liệu điện tử xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó. Cổ phiếu phải có các nội dung chủ yếu sau đây: + Tên, mã số doanh nghiệp, địa chỉ trụ sở chính của công ty; + Số lượng cổ phần và loại cổ phần; + ...

Trước ngày 01/07/2015, cổ phiếu của công ty cổ phần được quy định tại Điều 85 Luật doanh nghiệp 2005 với nội dung như sau: - Cổ phiếu là chứng chỉ do công ty cổ phần phát hành hoặc bút toán ghi sổ xác nhận quyền sở hữu một hoặc một số cổ phần của công ty đó. Cổ phiếu có thể ghi tên hoặc không ghi tên. Cổ phiếu phải có các nội dung chủ yếu sau đây: + Tên, địa chỉ trụ sở chính của công ty; + Số và ngày ...