Đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng

Đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng lần đầu tiên được ghi nhận tại Luật Thuế giá trị gia tăng 1997 và nội dung này tiếp tục được sửa đổi, bổ sung qua các Luật Thuế giá trị gia tăng sau này.

Thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng là trường hợp hàng hóa, dịch vụ không thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng. Cơ sở kinh doanh hàng hóa, dịch vụ thuộc đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng thì không phải thực hiện nộp thuế. Điểm chung giữa miễn thuế, thuế suất o% và không thuộc diện chịu thuế là không phải nộp thuế. Nhưng bản chất của ba trường hợp này là hoàn toàn khác nhau, dẫn đến việc có sự khác biệt giữa hoạt động khai thuế, nộp thuế.

Chính vì vậy, cơ sở kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không chịu thuế giá trị gia tăng không được khấu trừ và hoàn thuế giá trị gia tăng đầu vào, trường hợp áp dụng mức thuế suất 0% thì vẫn được áp dụng...

Đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng thay đổi như thế nào:
Theo quy định của pháp luật hiện hành thì thì thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Các hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng, trừ các đối tượng không thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng theo quy định của pháp luật. Theo đó, theo quy định ...

Theo quy định của pháp luật trước ngày 01/7/2016 thì thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Các hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng, trừ các đối tượng không thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng theo quy định của pháp luật. Theo đó, theo quy định ...

Theo quy định của pháp luật trước ngày 01/01/2014 thì thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Các hàng hóa, dịch vụ sử dụng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng, trừ các đối tượng không thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng theo quy định của pháp luật. Theo đó, theo quy định ...

Theo quy định của pháp luật trước ngày 01/01/2009 thì thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Các hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng, trừ các đối tượng không thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng theo quy định của pháp luật. Theo đó, theo quy định ...

Theo quy định của pháp luật trước ngày 01/01/2006 thì thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Các hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng, trừ các đối tượng không thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng theo quy định của pháp luật. Theo đó, theo quy định ...

Theo quy định của pháp luật trước ngày 01/01/2004 thì thuế giá trị gia tăng là thuế tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hoá, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Các hàng hóa, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam là đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng, trừ các đối tượng không thuộc diện chịu thuế giá trị gia tăng theo quy định của pháp luật. Theo đó, theo quy định ...