Quyền chất vấn của Đại biểu Quốc hội theo Hiến pháp

Quyền chất vấn của Đại biểu Quốc hội lần đầu tiên được quy định tại Điều 55 Hiến pháp 1946 và nội dung này tiếp tục được sửa đổi, bổ sung qua các bản Hiến pháp sau này.

Về bản chất, chất vấn là một hình thức được Quốc hội áp dụng để giám sát hoạt động của các cơ quan và các cá nhân được giao quyền. Khi thực hiện hoạt động chất vấn, đại biểu Quốc hội sẽ đại diện quyền lực của nhân dân, thay mặt nhân dân nêu ra những câu hỏi thuộc về trách nhiệm của các chức danh như: Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao đồng thời yêu cầu họ trả lời về trách nhiệm quản lý theo lĩnh vực. Chất vấn góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động giám sát của Quốc hội cũng như tinh thần trách nhiệm của các cơ quan nhà nước và cá nhân được giao quyền đối với cử tri.

Quyền chất vấn của Đại biểu Quốc hội theo Hiến pháp thay đổi như thế nào:
Theo quy định tại Điều 32 Luật Tổ chức Quốc hội 2014 thì quyền chất vấn của đại biểu Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được quy định cụ thể như sau: - Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán nhà nước. - Người bị ...

Quyền chất vấn của đại biểu Quốc hội được quy định tại Điều 49 Luật Tổ chức Quốc hội 2001, theo đó: Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Người bị chất vấn có trách nhiệm trả lời về những vấn đề mà đại biểu Quốc hội chất vấn. Trong thời gian Quốc hội họp, ...

Quyền chất vấn của đại biểu Quốc hội được quy định tại Điều 42 Luật Tổ chức Quốc hội 1992, theo đó: Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Chủ tịch nước, Chủ tịch Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ và các thành viên khác của Chính phủ, Chánh án Toà án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiếm sát nhân dân tối cao. Người bị chất vấn phải trả lời về những vấn đề mà đại biểu Quốc hội chất vấn. Trong thời gian Quốc hội họp, đại biểu ...

Quyền chất vấn của đại biểu Quốc hội được quy định tại Điều 59 Luật Tổ chức Quốc hội và Hội đồng Nhà nước 1981, theo đó: Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Hội đồng bộ trưởng và các thành viên của Hội đồng bộ trưởng, Chánh án Toà án nhân dân tối cao và Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao. Khi Quốc hội họp, đại biểu quốc hội gửi những chất vấn đến Chủ tịch Quốc hội để Chủ tịch Quốc hội chuyển cho các cơ ...

Quyền chất vấn của đại biểu Quốc hội được quy định tại Điều 42 Luật Tổ chức Quốc hội 1960, theo đó: Đại biểu Quốc hội có quyền chất vấn Hội đồng Chính phủ và các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ. Lời chất vấn do Chủ tịch đoàn, hoặc trong thời gian Quốc hội không họp thì do Uỷ ban thường vụ Quốc hội chuyển cho cơ quan bị chất vấn để trả lời trước Quốc hội hoặc trước Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Mong rằng những tư vấn của ...