Quyền của người chỉ huy tàu bay

Quyền của người chỉ huy tàu bay lần đầu tiên được ghi nhận tại Điều 32 Luật Hàng không dân dụng Việt Nam 1991 và nội dung này tiếp tục được sửa đổi, bổ sung qua các Luật Hàng không dân dụng Việt Nam sau này.

Người chỉ huy tàu bay là thành viên tổ lái được người khai thác tàu bay chỉ định cho một chuyến bay; đối với hoạt động hàng không chung không vì mục đích thương mại thì do chủ sở hữu tàu bay chỉ định. Người chỉ huy tàu bay có quyền cao nhất trong tàu bay, chịu trách nhiệm bảo đảm an toàn hàng không, an ninh hàng không cho tàu bay, người và tài sản trong tàu bay trong thời gian tàu bay đang bay.

Luật Hàng không dân dụng Việt Nam quy định tàu bay chỉ được phép thực hiện chuyến bay khi có đủ thành phần tổ lái theo quy định của pháp luật quốc gia đăng ký tàu bay hoặc quốc gia của người khai thác tàu bay. Việc tuyển chọn, đào tạo chỉ huy tàu bay đều trải qua một quy trình chọn lọc chặt chẽ để đảm bảo chất lượng tốt nhất vì hoạt động của chỉ huy tàu bay ảnh hưởng đến an toàn của chuyến bay.

Quyền của người chỉ huy tàu bay thay đổi như thế nào:
Căn cứ theo quy định tại Luật hàng không dân dụng Việt Nam 2006 66/2006/QH11có quy định quyền của người chỉ huy tàu bay như sau: 1. Quyết định và chịu trách nhiệm về việc cất cánh, hạ cánh, huỷ bỏ chuyến bay, quay trở lại nơi cất cánh hoặc hạ cánh khẩn cấp. 2. Không thực hiện nhiệm vụ chuyến bay, kế hoạch bay hoặc chỉ dẫn của cơ sở cung cấp dịch vụ không lưu trong trường hợp cần tránh nguy hiểm tức thời, trực tiếp cho hoạt động hàng ...

Căn cứ theo quy định tại Luật Hàng không dân dụng 1991 63-LCT/HĐNN8 có quy định quyền của người chỉ huy tàu bay dân dụng Việt Nam như sau: Điều 32 Người chỉ huy tầu bay có quyền quyết định và chịu trách nhiệm về việc cất cánh, bay, hạ cánh, huỷ bỏ chuyến bay, quay trở lại nơi cất cánh hoặc hạ cánh bắt buộc. Trong trường hợp cần tránh nguy hiểm tức thời, trực tiếp đe doạ an toàn bay, người chỉ huy tầu bay có quyền không thực hiện nhiệm ...