Quyền thay đổi tên

Quyền thay đổi tên là một trong những quyền nhân thân cơ bản nhất của mỗi công dân từ lúc sinh ra, quyền này được quy định lần đầu tại Bộ luật dân sự năm 1995. Cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc thay đổi tên của mình và việc thay đổi tên nhằm bảo vệ quyền nhân thân của cá nhân khi có nguyện vọng và mong muốn chính đáng. Tuy nhiên không phải việc thay đổi tên của mỗi người đều được chấp nhận mà phải tuân thủ các điều kiện, trường hợp mà pháp luật cho phép và đương nhiên việc thay đổi này sẽ không làm ảnh hưởng tới quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể khác. Thủ tục thay đổi tên phải theo quy định chung của pháp luật dân sự và thủ tục hộ tịch nói riêng. Trước đây, Bộ luật dân sự 1995 và Bộ luật dân sự 2005 đã gộp chung quy định quyền thay đổi tên vào quy định quyền thay đổi họ tên, tuy nhiên qua tới Bộ luật dân sự 2015 đã cụ thể hóa hơn và tách quyền thay đổi tên thành một điều khoản cụ thể và chi tiết hơn.

Quyền thay đổi tên thay đổi như thế nào:
Trường hợp của em được pháp luật về dân sự quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 28 Bộ luật dân sự 2015, cụ thể như sau: Cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi tên mà việc sử dụng tên đó gây nhầm lẫn, ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, đến danh dự, quyền, lợi ích hợp pháp của người đó. Chiếu theo quy định tên, việc tên của em gây nhầm lẫn với tên tội phạm nổi tiếng ...

Điều 27 - Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định về Quyền thay đổi họ, tên như sau: 1. Cá nhân có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền công nhận việc thay đổi họ, tên trong các trường hợp sau đây: a) Theo yêu cầu của người có họ, tên mà việc sử dụng họ, tên đó gây nhầm lẫn, ảnh hưởng đến tình cảm gia đình, đến danh dự, quyền, lợi ích hợp pháp của người đó; b) Theo yêu cầu của cha nuôi, mẹ nuôi về ...

Theo quy định tại Điều 20 Bộ luật dân sự 1995 thì người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên. Người chưa đủ mười tám tuổi là người chưa thành niên. Cũng theo quy định này thì năng lực hành vi dân sự của người chưa thành niên được quy định cụ thể như sau: - Người chưa đủ sáu tuổi, thì không có năng lực hành vi dân sự. Mọi giao dịch dân sự của người chưa đủ sáu tuổi đều phải do người đại diện theo pháp luật ...