Tiêu chuẩn công chứng viên

Tiêu chuẩn công chứng viên lần đầu tiên được ghi nhận tại Điều 13 Luật công chứng 2006 và nội dung này tiếp tục được sửa đổi, bổ sung qua các Luật công chứng về sau.

Xuất phát từ chức năng xã hội của công chứng viên là hoạt động cung cấp dịch vụ công do Nhà nước ủy nhiệm thực hiện nhằm bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên tham gia hợp đồng, giao dịch; phòng ngừa tranh chấp; góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức; ổn định và phát triển kinh tế - xã hội mà Luật công chứng đặt ra một số tiêu chuẩn đối với công chứng viên.

Có thể khẳng định, để trở thành công chứng viên, một cá nhân phải trải qua một quá trình phấn đấu trong học tập cũng như làm việc. Ngoài điều kiện chung về đạo đức chính trị, họ phải tốt nghiệp cử nhân Luật và hoàn thành khóa đào tạo công chứng viên, nếu như đạt yêu cầu trong kỳ thi tập sự và có đủ thời gian công tác tại cơ quan, tổ chức thì họ sẽ được bổ nhiệm làm công chứng viên.

Tiêu chuẩn công chứng viên thay đổi như thế nào:
Công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt và có đủ các tiêu chuẩn sau đây thì được xem xét, bổ nhiệm công chứng viên: - Có bằng cử nhân luật; - Có thời gian công tác pháp luật từ 05 năm trở lên tại các cơ quan, tổ chức sau khi đã có bằng cử nhân luật; - Tốt nghiệp khóa đào tạo nghề công chứng hoặc hoàn thành khóa bồi dưỡng nghề công chứng theo quy định; - ...

Trước ngày 01/01/2015, tiêu chuẩn của công chứng viên đuợc quy định tại Điều 13 Luật Công chứng 2006 với nội dung như sau: - Công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt và có đủ các tiêu chuẩn sau đây thì được xem xét, bổ nhiệm làm công chứng viên: + Có bằng cử nhân luật; + Có thời gian công tác pháp luật từ năm năm trở lên tại các cơ quan, ...