Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy

Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy lần đầu tiên được ghi nhận tại Bộ luật Hình sự 1999. Đây là tội danh được xếp vào nhóm các tội phạm về ma túy.

Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy xâm phạm đến chế độ quản lý của nhà nước về các chất ma túy, ngoài ra còn gián tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác.

Để xác định một người Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy thì phải xem xét có hội tụ đủ các dấu hiệu hiệu cấu thành cơ bản hay chưa, nếu thiếu một trong các dấu hiệu trong Luật thì họ không phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này. Người phạm tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy thực hiện hành vi phạm tội của mình do cố ý, tức là nhận thức rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm, thấy trước được tác hại của hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy nhưng vẫn thực hiện.Chủ thể của tội này là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự. Về hình phạt, bên cạnh việc áp dụng hình phạt chính thì người phạm tội có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung.

Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy thay đổi như thế nào:
Theo quy định tại Điều 256 Bộ Luật hình sự 2015 (có hiệu lực ngày 01/01/2018) thì: 1. Người nào cho thuê, cho mượn địa điểm hoặc có bất kỳ hành vi nào khác chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 255 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: a) Lợi dụng chức ...

Tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là tội xâm phạm trật tự, an toàn xã hội, sức khỏe, nòi giống, phẩm giá của con người. Hành vi chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy là hành vi biết người khác mượn hoặc thuê địa điểm thuộc quyền chiếm hữu, quản lý của mình để sử dụng trái phép chất ma túy nhưng vẫn cho mượn hoặc cho thuê, hoặc có hành vi khác như cho thuê mượn xe, tàu, thuyền… để người khác ...

Có thể bạn quan tâm: