Vô ý phạm tội trong pháp luật Hình sự

Lỗi là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm của tội danh được quy định trong Bộ luật Hình sự. Một người được coi là có lỗi nếu hành vi đó là kết quả của sự tự lựa chọn của họ trong khi họ có đủ điều kiện chủ quan và khách quan để lựa chọn, thực hiện xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội. Khoa học luật Hình sự cũng như thực tiễn xét xử từ trước đến nay vẫn thừa nhận có hai hình thức lỗi vô ý là vô ý do cẩu thả và vô ý vì quá tự tin. Việc xác định được người phạm tội cố ý hay vô ý phạm tội là rất quan trọng trong việc định tội danh, xác định trách nhiệm hình sự đối với người vi phạm.

Vô ý phạm tội trong pháp luật Hình sự thay đổi như thế nào:
Vô ý phạm tội được quy định tại Điều 11 Bộ luật hình sự 2015, theo đó: Vô ý phạm tội là phạm tội trong những trường hợp sau đây: 1. Người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được. 2. Người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải ...

Theo quy định tại Điều 10 Bộ luật hình sự thì vô ý phạm tội là phạm tội trong trường hợp sau đây: - Người phạm tội tuy thấy hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra hoặc có thể ngăn ngừa được; - Người phạm tội không thấy hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy ...

Vô ý phạm tội được quy định tại Điều 10 Bộ luật hình sự 1985, theo đó: Vô ý phạm tội là phạm tôi trong những trường hợp sau đây: a) Người phạm tôi do cẩu thả mà không thấy trước khả năng gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước. b) Người phạm tội tuy thấy hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hại cho xã hội, nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra ...